ĐO LOÃNG XƯƠNG TIA X - TOÀN THÂN
05-06-2024

Đo loãng xương hay đo mật độ xương (tên tiếng Anh Bone Mineral Density – BMD) là kỹ thuật sử dụng tia X hoặc hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA hay DXA), hay chụp CT để xác định hàm lượng canxi và các khoáng chất có trong xương. Những khu vực thường được thực hiện đo mật độ xương là cột sống, hông hoặc xương cẳng tay.
Mục đích thực hiện xét nghiệm mật độ xương là sớm phát hiện những vấn đề về loãng xương (xương mỏng, yếu) và mất xương (giảm khối lượng xương) để có hướng điều trị càng sớm càng tốt. Việc điều trị sớm giúp ngăn ngừa tình trạng gãy xương. Các biến chứng của xương bị gãy liên quan đến loãng xương thường nghiêm trọng, đặc biệt là ở người già. Do đó, phát hiện sớm tình trạng loãng xương sẽ giúp chẩn đoán, điều trị kịp thời để cải thiện tình hình hoặc ngăn cho vấn đề không trở nặng.(1)
Theo đó, việc đo lường mật độ xương được thực hiện nhằm mục đích:
Có nhiều yếu tố nguy cơ gây loãng xương, trong đó nhóm đối tượng cần được tiến hành đo mật độ xương bao gồm:
Ngoài ra, các bác sĩ cũng có thể đề nghị thực hiện kiểm tra mật độ xương khi bạn rơi vào những trường hợp sau:
Để việc đo loãng xương diễn ra nhanh chóng và cho kết quả chính xác, bạn cần nắm những thông tin cơ bản sau:
Bác sĩ có thể yêu cầu bạn ngừng việc bổ sung canxi trong khoảng 24 đến 48 giờ trước khi thực hiện đo loãng xương. Ngoài ra, bác sĩ cũng đưa lời khuyên không nên đeo đồ trang sức kim loại hoặc mặc quần áo có các chi tiết kim loại như nút, khóa kéo… khi thực hiện kỹ thuật này.
Khi bước vào thực hiện việc đo mật xương, ngoài những lưu ý trên, bạn sẽ được hướng dẫn cụ thể trình tự các bước như sau:
Hoàn tất quá trình đo, bác sĩ sẽ hẹn bạn thời gian nhận kết quả. Tùy thuộc vào thế hệ máy, kinh nghiệm của bác sĩ đọc kết quả mà thời gian trả kết quả sẽ diễn ra nhanh hay lâu. Hiện nay, với những thế hệ máy móc hiện đại thì thời gian trả kết quả đã được rút ngắn rất nhiều.
Thông qua kỹ thuật đo mật độ xương sẽ xác định mật độ khoáng xương của cơ thể có đang trong tình trạng suy yếu. Kết quả đo mật độ xương được so sánh với 2 chỉ số: điểm T và điểm Z.
Thông qua điểm số T và Z bác sĩ sẽ đánh giá được mức độ loãng xương của bạn
Đầu tiên, kết quả BMD của bạn được so sánh với kết quả BMD của Người 25 – 35 tuổi khỏe mạnh cùng giới tính và dân tộc với bạn. Độ lệch chuẩn (SD) chính là sự khác biệt giữa BMD của bạn với Người 25-35 tuổi khỏe mạnh. Đây gọi là điểm T.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), loãng xương được xác định dựa trên các mức mật độ xương sau:
Ngoài xét nghiệm mật độ xương, bác sĩ cũng có thể đề xuất các xét nghiệm khác như xét nghiệm máu để xem xét nguy cơ mắc bệnh thận, đánh giá chức năng tuyến cận giáp, đánh giá mức độ khoáng chất trong cơ thể liên quan đến sức khỏe xương (chẳng hạn như canxi).
Ngoài chỉ số T, BMD của bạn còn được so sánh với mật độ xương bình thường của Người khỏe mạnh cùng độ tuổi (điểm Z). Điểm Z thể hiện mật độ xương của bạn cao hay thấp hơn so với người khỏe mạnh ở cùng độ tuổi, giới tính, chiều cao, cân nặng và chủng tộc với bạn. Theo đó, điểm Z được Hiệp hội Đo mật độ lâm sàng quốc tế (ISCD) đánh giá như sau:
Có nhiều cách khác nhau để đo mật độ xương, trong đó phổ biến nhất là sử dụng một quy trình hấp thụ tia X năng lượng kép (quét DEXA).
Quy trình đo mật độ loãng xương bằng phương pháp đo loãng xương Deax được diễn ra như sau:
Đo mật độ xương (hay quét mật độ xương) DXA cũng là kỹ thuật sử dụng tia X năng lượng kép để đo tình trạng mất xương. Là biện pháp định lượng mất xương và để theo dõi người đang điều trị. Kỹ thuật này thường được thực hiện ở cột sống và cổ xương đùi. Trong một số trường hợp có thể đo xương toàn bộ cơ thể. DXA cũng thường được sử dụng để chẩn đoán loãng xương ở những đối tượng: (3)
Kỹ thuật quét mật độ xương sử dụng liều bức xạ rất thấp nên an toàn với hầu hết mọi người, mọi độ tuổi. Tuy nhiên, kỹ thuật này không được khuyến khích cho phụ nữ mang thai để tránh gây hại cho thai nhi. Do đó, hãy nói cho bác sĩ tình trạng của bạn ngay cả khi bạn nghi ngờ mình đang có thai.
Theo như đã nói ở trên, khi thấy mình nằm trong nhóm người dưới đây, bạn cần được thực hiện việc đo mật độ xương: Phụ nữ sau mãn kinh không dùng estrogen, người cao tuổi (phụ nữ trên 65 tuổi và nam giới trên 70 tuổi), hút thuốc, tiền sử gia đình bị gãy xương hông; sử dụng steroid lâu dài hoặc một số loại thuốc khác; người mắc một số bệnh, bao gồm viêm khớp dạng thấp, đái tháo đường loại 1, bệnh gan, bệnh thận, cường giáp hoặc cường cận giáp; tiêu thụ rượu quá mức; phụ nữ đã từng được điều trị bằng liệu pháp thay thế hormone trong khoảng thời gian 10 năm; đàn ông trong độ tuổi từ 50 đến 69 tuổi bị tăng glucocorticoid, lạm dụng thuốc lá và rượu, giảm năng tuyến sinh dục nam (Hypogonadism), suy thận…
