SIÊU ÂM 3D/ 4D/5D
05-06-2024
Siêu âm được biết đến là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, hỗ trợ bác sĩ trong công tác chẩn đoán và điều trị bệnh. Những tiến bộ vượt bậc trong kỹ thuật siêu âm hiện đại phải kể đến siêu âm 3 chiều (3D) có khả năng tái tạo các dữ liệu thu nhận được từ sóng âm thành hình ảnh 3 chiều, hay siêu âm 4 chiều (4D) là siêu âm 3 chiều có tích hợp thêm ghi nhận sự chuyển động.
Những ưu điểm của phương pháp siêu âm:
Tuy nhiên, bên cạnh đó kỹ thuật siêu âm vẫn có một số nhược điểm nhất định:
Siêu âm 3D là một trong những kỹ thuật được chỉ định thực hiện nhiều nhất hiện nay, được dùng trong những trường hợp hỗ trợ chẩn đoán bệnh lý, thường gặp nhất là trong khám thai. Đầu dò máy siêu âm sẽ thu nhận và phản xạ lại, thể hiện hình ảnh rõ nét trong không gian 3 chiều.
Siêu âm 4D là công nghệ được phát triển trên nền tảng siêu âm 3D. Bên cạnh các tính năng như 3D, 4D còn bổ sung tính năng ghi nhận hình ảnh cử động của thai nhi, nhờ đó bố mẹ có thể nhìn thấy hình thái cơ thể con yêu một cách rõ nét và chân thực.
Siêu âm Doppler được áp dụng nhiều nhất trong siêu âm thai kỳ và siêu âm tim mạch nhờ khả năng đo dòng chuyển động trong mạch máu. Thông qua phương pháp ultrasound Doppler, các bác sĩ có thể phát hiện sớm và chính xác các dị tật về mặt hình thái ở thai nhi, cũng như tình trạng phát triển của thai nhi trong bụng mẹ. Đặc biệt, siêu âm Doppler cho kết quả chẩn đoán chính xác dị tật tim thai.
Hiện nay, siêu âm Doppler có 2 loại là siêu âm xung và siêu âm Doppler liên tục. Kỹ thuật này được xem là phương pháp chẩn đoán hình ảnh an toàn nhất cho cả thai phụ và thai nhi, kể cả những thai phụ ở 3 tháng cuối của thai kỳ.
Đây là kỹ thuật sử dụng sóng siêu âm để thực hiện nghiên cứu cấu trúc và chẩn đoán các bệnh lý ở tim. Thông qua các tín hiệu siêu âm dò tìm và thể hiện lại qua hình ảnh, tình trạng co bóp của tim được thể hiện rõ nét. Bên cạnh đó, dựa vào hình ảnh này bác sĩ cũng có thể đánh giá được tư thế, vị trí cũng như kích thước buồng tim, từ đó phát hiện được những lỗ khuyết hổng ở các vách ngăn trong tim, các u xơ hoặc dị tật bên trong tim và ngoài màng tim nếu có.
Hiện các kỹ thuật siêu âm tim phổ biến gồm:
Đây là kỹ thuật được sử dụng phổ biến trong vật lý trị liệu nhằm điều trị các tổn thương ở da và mô mềm.
Kỹ thuật này sử dụng một tần số thích hợp, tác dụng nhiệt và cơ học lên mô và da để mô dễ dàng hấp thụ năng lượng sóng âm. Do đó, kỹ thuật này rất thích hợp cho những trường hợp muốn giảm triệu chứng đau nhức, hoặc tái tạo mô bị tổn thương ở sâu bên trong cơ thể.
Siêu âm ổ bụng là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được áp dụng trong trường hợp muốn quan sát cấu trúc bên trong các cơ quan nội tạng cơ thể, phát hiện các bất thường ở các cơ quan này nếu có. Chẳng hạn các bệnh lý ở gan như viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ, áp xe gan…; các bệnh lý ở hệ tiêu hóa như viêm ruột thừa, ruột non…; các bất thường ở đường mật như sỏi mật, viêm túi mật, dị dạng đường mật…; các bất thường ở cơ quan sinh dục như u xơ tử cung, u nang buồng trứng, ung thư tuyến tiền liệt…
Ngoài ra, siêu âm ổ bụng còn được dùng trong khảo sát dịch trong bụng, khoang màng phổi và màng tim. Hình ảnh siêu âmthu được có ý nghĩa giúp phát hiện các dấu hiệu bất thường là nguyên nhân dẫn đến bệnh lý phình động mạch chủ, dịch ổ bụng…
Siêu âm đầu dò giúp phát hiện, đánh giá các bất thường ở buồng trứng, vòi trứng, tử cung, cổ tử cung, độ dày niêm mạc tử cung… có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ khám, chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả bệnh lý vô sinh hiếm muộn.
Tùy theo dấu hiệu và nhu cầu thăm khám mà bác sĩ sẽ chỉ định siêu âm đầu dò phù hợp, có thể là siêu âm đầu dò âm đạo hoặc đầu dò hậu môn. Siêu âm đầu dò hậu môn được dùng trong chẩn đoán các bệnh lý vùng tiểu khung, tuyến tiền liệt, bệnh trực tràng…
Siêu âm tử cung phần phụ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được dùng trong đánh giá chức năng sinh dục ở nữ giới, đánh giá độ dày mỏng của niêm mạc tử cung và hỗ trợ phát hiện sớm, tầm soát các bệnh lý phụ khoa, có hướng điều trị can thiệp kịp thời.
Siêu âm tổng quát hiện nay được sử dụng rộng rãi tại các cơ sở y tế và mang đến nhiều lợi ích như:
Siêu âm tổng quát là kỹ thuật khá đơn giản, tiến hành nhanh chóng và an toàn. Tuy nhiên, để đảm bảo cho ra kết quả hình ảnh rõ nét, chính xác thì quy trình siêu âm tổng quát cần được thực hiện đúng.
Siêu âm tổng quát hiện nay gồm có siêu âm 2D, siêu âm 3D, siêu âm 4D, siêu âm Doppler:(1)
Siêu âm tim thai là quá trình kiểm tra cấu trúc của tim thai nhi. Các kết quả hình ảnh được tạo từ sóng âm cung cấp đầy đủ thông tin hình thành tim thai nhi, quá trình hoạt động, cũng như theo dõi nhịp đập của tim thai.
Siêu âm tim thai là một chỉ định chẩn đoán khác với siêu âm thai thông thường. Nếu mục đích khi thực hiện siêu âm thai giúp làm rõ 2 vấn đề: kiểm tra sức khỏe, sự phát triển của thai nhi và sớm phát hiện các dấu hiệu bất thường của bào thai; thì thực hiện siêu âm tim thai được chỉ định khi bác sĩ nghi ngờ có dấu hiệu bất thường trong tim thai nhi, cần khảo sát chuyên sâu để theo dõi sát sao. (1)
Câu trả lời là “CÓ”. Siêu âm tim thai có thể phát hiện bệnh tim bẩm sinh. Thông qua các hình ảnh siêu âm tim thai, bác sĩ có thể nhìn rõ hơn cấu trúc và chức năng tim, từ đó sớm phát hiện các dị tật, bất thường liên quan tim của trẻ. Nếu thai nhi có chẩn đoán mắc tim bẩm sinh, thai phụ sẽ được các bác sĩ chuyên khoa theo dõi suốt thai kỳ và có kế hoạch chuẩn bị phù hợp tùy theo tình trạng bệnh.
Nhờ hệ thống máy móc hiện đại, một số triệu chứng tim bẩm sinh khó phát hiện trước đây nay đã được dự đoán sớm. Tuy nhiên, do tim em bé trong bào thai rất nhỏ, nên một số dị tật có thể không được phát hiện, hoặc dị tật tim chỉ có thể xác định sau khi bé chào đời do lúc đó hệ tuần hoàn của bé hoàn chỉnh, không còn phụ thuộc tuần hoàn nhau thai của mẹ.
Bệnh tim bẩm sinh là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Việc siêu âm tầm soát tim bẩm sinhtrong thai kỳ có nghĩa quan trọng, giúp bác sĩ theo dõi và có hướng điều trị phù hợp tình hình bệnh của trẻ ngay khi chào đời, giảm thiểu nguy cơ rủi ro đe dọa cuộc sống về sau cũng như tính mạng của trẻ.
Siêu âm tim thai rất an toàn, đến nay chưa ghi nhận các tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe thai phụ và sự phát triển của trẻ. Do đó nếu phát hiện các dấu hiệu nguy cơ, bác sĩ có thể tiến hành siêu âm nhiều lần để đưa ra nhận định chính xác hơn. Thai phụ có bất thường tim thai nên thăm khám theo lịch hẹn để được bác sĩ theo dõi chặt chẽ. (2)
Một số dị tật tim phổ biến có thể được phát hiện nhờ quá trình siêu âm tim thai như:
Thời gian siêu âm sàng lọc các dấu hiệu bất thường tim thai từ tuần thai 18-24. Đây được cho là thời điểm lý tưởng giúp bác sĩ có thể dễ dàng quan sát, khảo sát giải phẫu tim thai hoàn chỉnh và kịp thời đưa ra các tiên lượng, chỉ định phù hợp nếu có bất thường.
Một số thai phụ siêu âm tim thai sớm từ tuần thứ 13-14. Thời điểm này bác sĩ có thể phát hiện một số dấu hiệu bất thường nếu có ở tim thai nhi. Tuy nhiên, lúc này tim thai nhi còn nhỏ, chưa hoàn thiện, việc siêu âm chẩn đoán sàng lọc tim bẩm sinh thường không được khuyến nghị thời điểm này. Ngược lại, một số trường hợp nếu siêu âm tim thai muộn (sau tuần thai 30), hiệu quả quan sát không cao do hệ thống xương và cơ quan của bé hoàn thiện, che lấp một phần tim khiến khả năng chẩn đoán có thể không chính xác bằng giai đoạn 18-24 tuần thai. (3)
Siêu âm tim thai thường được chỉ định vào tam cá nguyệt thứ 2 của thai kỳ, trong một số trường hợp sau:
Siêu âm tim là phương pháp thăm dò, chẩn đoán tình trạng của tim dựa vào việc sử dụng sóng siêu âm tần số cao, giúp thu được những hình ảnh rõ nét liên quan đến cấu trúc và chức năng của tim bao gồm: Cơ tim, hệ thống van tim, màng ngoài tim, các mạch máu xuất phát từ tim, sức co bóp, khả năng hoạt động của tim.(1)
Siêu âm tim được xem là một trong những phương pháp chẩn đoán hình ảnh đầu tay vô cùng cần thiết khi kiểm tra sức khỏe tổng quát, tầm soát các bệnh lý cũng như những biến chứng nguy hiểm về tim mạch.
Cụ thể, hình ảnh thu được từ quá trình siêu âm tim cho phép các bác sĩ đưa ra chẩn đoán chính xác về kích thước, hình dạng, độ dày và chuyển động thành tim; sức co bóp và vận động của tim; cho biết tình trạng hoạt động của tim có bình thường không; van tim có bị hở, hẹp hoặc có khối u bất thường xung quanh hay không… Những hình ảnh này có thể giúp phát hiện kịp thời những bệnh lý tim mạch tiềm tàng còn ở giai đoạn sớm, chưa có nhiều biểu hiện rõ ràng trên lâm sàng.
Siêu âm tim được xem là một trong những kỹ thuật không xâm lấn, không sử dụng bức xạ, do đó rất hiếm xảy ra tác dụng phụ và có thể được lặp lại nhiều lần để theo dõi tình trạng bệnh.
Thông thường, bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện kỹ thuật siêu âm tim đối với những bệnh nhân có xuất hiện các triệu chứng về tim hoặc mạch máu như: loạn nhịp tim, tăng huyết áp, khó thở, đau thắt ngực, khó thở… Bên cạnh đó, những bệnh nhân khi phát hiện ra những dấu hiệu bất thường về tim mạch thông qua các xét nghiệm khác như: chụp x-quang phổi thấy bóng tim to, nghe thấy tiếng tim bất thường bằng ống nghe… cũng sẽ được chỉ định thực hiện siêu âm tim để kiểm tra tình trạng tim mạch một cách kỹ lưỡng hơn.
Ngoài ra, nếu bạn đang gặp phải các biểu hiện nghi ngờ liên quan đến tim cũng nên nhanh chóng đến các cơ sở y tế để được thực hiện siêu âm tim kịp thời. Bao gồm:
Hiện nay, cùng với những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực y tế, siêu âm tim ngày càng được tối ưu hóa với những kỹ thuật hiện đại. Một số kỹ thuật siêu âm phổ biến hiện nay có thể kể đến như:
Siêu âm tim qua thành ngực là kỹ thuật đầu tiên phổ biến nhất của siêu âm tim. Đây là phương pháp sử dụng đầu dò đặt dọc theo bờ trái hoặc bờ phải xương ức, mỏm tim, dưới hõm ức, trên hõm ức giúp quan sát, đánh giá cấu trúc và chức năng của tim. Kết quả thu được từ quá trình siêu âm tim qua thành ngực là những hình ảnh 2D, 3D của các cấu trúc tim, và các dòng chảy trong tim.(4)
Siêu âm tim qua thực quản là kỹ thuật siêu âm tim thông qua đầu dò được đặt qua miệng vào thực quản của người bệnh. Nhờ vị trí đầu dò được đặt gần cấu trúc tim và không nhiều cản trở như thành ngực, nên một số hình ảnh thu được rất rõ ràng và chi tiết.(5)
So với siêu âm tim qua thành ngực, thì siêu âm tim qua thực quản có ưu điểm cung cấp hình ảnh các cấu trúc có kích thước nhỏ một cách rõ ràng hơn như: Sùi nội mạc van tim và tổ chức dưới van, đặc biệt trên nền van tim nhân tạo, các luồng thông bất thường trong tim như lỗ bầu dục, thông liên nhĩ… Theo đó, khi hình ảnh siêu âm tim qua thành ngực bị hạn chế, hoặc cần khảo sát rõ cấu trúc van hoặc những bất thường trong tim, đánh giá trước hay trong khi phẫu thuật, bác sĩ có thể chỉ định siêu âm tim qua thực quản.
Siêu âm tim gắng sức là kỹ thuật siêu âm tim giúp xác định tình trạng của tim và huyết động trong và sau khi bệnh nhân thực hiện nghiệm pháp gắng sức thể lực hoặc sử dụng thuốc. Hình ảnh siêu âm tim thu được trong quá trình gắng sức bằng thể lực hoặc sử dụng thuốc của bệnh nhân giúp bác sĩ đánh giá tình trạng cơ tim có được cấp máu đủ trong khi người bệnh gắng sức hay không. Siêu âm tim gắng sức cũng cho biết khả năng hoạt động an toàn của người bệnh có bệnh lý tim mạch đang điều trị, cũng như đánh giá kết quả điều trị.(6)
Lưu ý: khi thực hiện siêu âm tim gắng sức, vì người bệnh có hoạt động thể lực hoặc sử dụng thuốc để tăng co bóp cơ tim, nên siêu âm tim gắng sức có thể gây một số những triệu chứng phụ.
Siêu âm tim 3 chiều (hay còn được gọi là SAT 3D) là kĩ thuật siêu âm tim mới được ứng dụng gần đây. Kỹ thuật siêu âm tim 3 chiều được đánh giá cao với những ưu điểm nổi bật như: chẩn đoán tốt các vấn đề về tim ở trẻ sơ sinh và trẻ em, thu được các hình ảnh cấu trúc phức tạp trong tim, giúp đánh giá chức năng van tim ở những người có tiền sử bị bệnh van tim, hay có những bất thường về cấu trúc tim.
Siêu âm tim thai là giúp tầm soát những dị tật tim của thai nhi. Kỹ thuật siêu âm tim thai phổ biến nhất là siêu âm 2D và Doppler bằng đầu dò qua thành bụng. Phương pháp này thường được thực hiện khi sản phụ đang ở tuần thai thứ 18 đến 22 của thai kỳ. Tuy nhiên, đối với các trường hợp mẹ bầu phát hiện dị tật lớn của cơ quan ngoài tim, có tiền sử sinh con dị tật tim bẩm sinh ở lần mang thai trước, độ mờ da gáy dày thì có thể tiến hành siêu âm tim thai sớm hơn. Mục đích nhằm phát hiện kịp thời những dấu hiệu bất thường, hay các dị tật tim bẩm sinh nếu có. Tuy nhiên, thực hiện siêu âm tim thai trong giai đoạn sớm sẽ có nhiều hạn chế trong chẩn đoán.
Nhờ vào hình ảnh thu được từ quá trình siêu âm tim, bác sĩ có thể quan sát được tình trạng của tim, từ đó đưa ra các chẩn đoán về các vấn đề như:(3)
Siêu âm 2D
